Skip to main content

Command Palette

Search for a command to run...

Tổng Quan Về Lịch Sử Kinh Thánh

Updated
Tổng Quan Về Lịch Sử Kinh Thánh

1. Kinh Thánh là gì?

Kinh Thánh chứa đựng những sự dạy dỗ có thẩm quyền từ Yahweh (Jehovah) Đức Chúa Trời vô cùng thánh thiêng và linh nghiệm. Trong tiếng Hy Lạp, Kinh Thánh có nghĩa là “SÁCH”, trong ngôn ngữ Babylon cổ thì có nghĩa là “Giấy Cói”. Kinh thánh xuất hiện lần đầu trong tuyển dân Do Thái chỉ với 24 sách, được chia làm 4 phần: Ngũ Kinh, Lịch Sử, Tiên Tri và Văn Chương. Càng về sau, khi Cơ đốc giáo bắt đầu phát triển mạnh mẽ và theo các phong trào cải chánh, Kinh Thánh của các hệ phái Tin Lành hiện tại là một tập hợp được qui điển khép kín bao gồm 66 sách, chia thành 2 phần là Cựu Ước – 39 sách và Tân Ước – 27 sách.

Nội dung Kinh thánh Cựu ước được phân làm 4 phần là: Ngũ kinh, Lịch sử, Tiên Tri và Khôn ngoan Giáo huấn. Kinh thánh Tân ước được chia làm 3 phần: Các sách Phúc âm, Thư tín và Khải huyền.

Trong thời kỳ thịnh trị và kiểm soát gần như hoàn toàn mọi khía cạnh trong cuộc sống, giáo hội công giáo La mã có thẩm quyền tuyệt đối trên Kinh thánh. Mọi vấn đề về chuyển giao và ban phát Kinh thánh đều do hệ thống linh mục của giáo hội thực hiện, bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào dám đi ngược lại đều phải nhận lấy những hình phạt vô cùng kinh khiếp...

* John Wycliffe (1320 -1384)

Là một nhà triết học uyên bác người Anh, nhà thần học, dịch giả Kinh thánh, nhà cải cách, linh mục, và một giáo sư chủng viện tại Đại học Oxford . Ông trở thành một người bất đồng chính kiến có ảnh hưởng lớn trong giới tư tế Công giáo La Mã trong thế kỷ 14 và được coi là tiền thân quan trọng hình thành nên các phong trào kháng cách của đạo Tin lành. Wycliffe được cho là người tiên phong công khai đặt các câu hỏi về địa vị đặc quyền của các giáo sĩ, linh mục, chức sắc trong giáo hội. Ông có nhiều tác phẩm mang hơi hướm “bút chiến” với những lý luận vô cùng sắc bén tấn công hệ thống cầm quyền của hàng tư tế trong giáo hội và đặc biệt là giáo hoàng. Những lập luận sắc bén của ông cho rằng Kinh thánh là trung tâm thẩm quyền của Cơ đốc giáo, thách thức chứng minh tính hợp pháp của Giáo hoàng và chủ nghĩa tu viện.

Cụ thể Wycliffe xem Kinh thánh là hướng dẫn đáng tin cậy duy nhất dẫn đến những hiểu biết về Đức Chúa Trời, và khẳng định rằng tất cả các Cơ đốc nhân nên dựa vào Kinh thánh hơn là dựa vào lời dạy của các giáo hoàng và linh mục giáo sĩ. Ông cho rằng không có lời biện minh, bằng chứng nào trong Kinh thánh cho chức vị của giáo hoàng. Ông rao giảng Hội thánh là vô hình bao gồm những con người được “tiền định” để nhận ơn cứu rỗi chứ không phải chủ nghĩa sùng bái các nhà thờ bằng gỗ đá hữu hình.

Wycliffe ủng hộ việc dịch Kinh thánh sang ngôn ngữ phổ thông bình dân để mọi người có thể tiếp cận và sở hữu dễ dàng . Theo nhiều nguồn truyền thống lịch sử, Wycliffe được cho là đã hoàn thành một bản dịch trực tiếp từ Vulgate sang tiếng Anh cổ, một phiên bản ngày nay được gọi là Kinh thánh của Wycliffe .

Có khả năng ông đã tự mình dịch các sách Phúc âm của Ma-thi-ơ , Mác , Lu-ca và Giăng; và có thể ông đã dịch toàn bộ Tân Ước , trong khi các cộng sự của ông dịch Cựu Ước.

Kinh thánh của Wycliffe dường như đã được hoàn thành vào năm 1384, các phiên bản cập nhật bổ sung được thực hiện bởi trợ lý của Wycliffe là John Purvey và những người khác vào năm 1388 và 1395.

Trong những năm trước khi qua đời vào năm 1384, ông ngày càng lập luận cho rằng Kinh thánh là trung tâm thẩm quyền của Cơ đốc giáo, rằng những tuyên bố của giáo hoàng là phi lịch sử, rằng chủ nghĩa tu viện đã bị thối nát một cách khó tin. Cuối năm 1384, ông bị đột quỵ và qua đời.

Năm 1401, một đạo luật chống Wycliffite được giáo hoàng Martin V chuẩn y. Tất cả sách vở của ông được lệnh phải đốt sạch, những môn đệ của Wycliffite bị truy lùng gắt gao để xử tử. Thi thể của ông bị quật lên, lấy xương đốt thành tro rồi vứt xuống sông Swift , chảy qua Lutterworth, thuộc vương quốc Anh.

* Jan Hus (1372 – 1415, đôi khi được gọi là John Hus hoặc John Huss)

Là một nhà thần học, triết học người Séc (Tiệp Khắc), ngoài ra ông còn làm hiệu trưởng tại Đại học Charles ở Praha 1409-1410. Ông là một nhà cải cách Giáo hội và là nguồn cảm hứng của chủ nghĩa Hussitism (một phong trào kháng cách) tiền đề quan trọng của đạo Tin lành , và là nhân vật chủ chốt trong cuộc cải cách Bohemian (Cộng hoà Séc hiện tại) Sau John Wycliffe.

Jan Hus sinh ra ở Husinec, Bohemia trong một gia đình nghèo khó. Để thoát khỏi cảnh nghèo đói, Hus đã chọn con đường trở thành linh mục. Khi còn nhỏ, ông đã đến Praha (thủ đô Cộng hoà Séc), nơi ông tự nuôi sống mình bằng cách ca hát và phục vụ trong các nhà thờ.

Sau khi lấy bằng Cử nhân Văn khoa và được thụ phong linh mục, Hus bắt đầu rao giảng ở Praha. Ông phản đối rất nhiều sự dạy dỗ sai trật của Giáo hội Công giáo ở Bohemia, nổi bật nhất là việc kinh doanh buôn bán bùa xá tội, các chuyện thuộc linh và bí tích thánh thể.

Ông bị giáo hội Công giáo tuyên bố là tà giáo và truy lùng gắt gao. Vào tháng 12 năm 1414, ông bị bắt áp giải đến toà giám mục Constance (nước Đức ngày nay) giao cho một ủy ban gồm ba giám mục điều tra sơ bộ chống lại Hus. Như một thông lệ, các nhân chứng cho vụ truy tố đã được lắng nghe nhưng Hus không được phép biện hộ hay bào chữa cho mình. Ông ở đây 73 ngày, tách biệt khỏi bạn bè, bị xiềng xích cả ngày lẫn đêm, ăn uống thiếu thốn và ốm yếu.

Tại phiên tòa cuối cùng, vào ngày 8 tháng 6 năm 1415, ba mươi chín bản án đã được gán cho Jan Hus. Việc kết án cuối cùng dành ông diễn ra vào ngày 6 tháng 7 năm 1415 trước sự chứng kiến của hội đồng giám mục của Milan (Italia). Ông bị tuyên án tử hình và bị hành quyết bằng cách cột thân vào một trụ gỗ, đầu và tay chân đều bị xích, chất rơm xung quanh và thiêu sống. Tro cốt của Jan Hus sau đó được ném xuống sông Rhine như một biện pháp ngăn cản việc tôn kính hài cốt của ông.

Sau khi Hus bị hành quyết, những người đi theo quan điểm của ông (được gọi là Hussites) đã từ chối bầu một quốc vương Công giáo khác và đánh bại 5 cuộc thập tự chinh liên tiếp của giáo hoàng từ năm 1420 đến năm 1431 trong cuộc Chiến tranh Hussite. Đặc biệt hơn là họ bắt đầu dịch Kinh thánh tiếng La tinh qua tiếng Bohemia (Séc). Bộ Kinh thánh Tân ước bằng tiếng Bohemia được công bố rộng rãi vào năm 1475.

Kinh thánh luôn là bộ sách bán chạy nhất mọi thời đại, ước tính mỗi năm có trên trăm triệu bản được phân phối khắp nơi trên thế giới. Theo một số nguồn thống kê thì hiện tại có khoảng gần 10 tỷ ấn bản của Kinh thánh đang được lưu hành khắp các quốc gia. Kinh thánh cũng là quyển sách được dịch ra hơn 2100 ngôn ngữ trên khắp hành tinh.

Kinh thánh không chỉ đơn thuần là một quyển sách chứa đựng tri thức, mà còn chứa đựng Lẽ thật - Lời của Đức Chúa Trời, là Lời linh nghiệm đầy quyền năng có thể thay đổi đời sống của từng con người cũng như những đế chế và các nền văn minh trên thế giới.

Kinh thánh có một giá trị và tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn đến lịch sử, văn hoá và chính trị của nhiều châu lục trên thế giới. Phần lớn Phương tây và các quốc gia siêu cường hiện tại có được sự phát triển cùng những thành tựu rực rỡ như ngày hôm là nhờ vào sự khai sáng từ những giá trị trong Kinh thánh.

Ít ai biết rằng nền văn minh Châu Âu - bao gồm tất cả những đất nước có quốc kỳ mang biểu tượng về sự thương khó, hy sinh của Chúa Giê-xu (Con Một của Đức Chúa Trời) mới chỉ được khai sáng trong khoảng gần 600 năm trở lại đây...

Trước đó, phần lớn trong số họ chỉ là những thành bang, bộ lạc sinh sống chủ yếu phụ thuộc vào săn bắt hái lượm, cực kỳ man di và lạc hậu. Nhưng từ khi tiếp nhận sâu rộng các giá trị, sự dạy dỗ, cùng những cuộc cách mạng khai phóng dựa trên nền tảng Kinh thánh, họ đã dần thay đổi, trở nên thông tuệ, văn minh, giàu có và phát triển rực rỡ như ngày hôm nay...

Tiếp đến là Hoa Kỳ - siêu cường số một thế giới hiện tại, cũng chỉ có lịch sử phát triển gần 300 năm gần đây.

Đất nước Cờ Hoa được khai sinh từ những nhóm người ly khai khỏi giáo hội Anh Giáo, rời bỏ "đế quốc sương mù" để đến với vùng đất hiện tại. Họ thống nhất với nhau lấy các giá trị giáo dục, văn minh từ Kinh thánh làm nền tảng xây dựng đất nước trong những ngày sơ khởi.

Truyền thống người đứng đầu quốc gia, khi nhậm chức phải đặt tay lên Kinh thánh tuyên thệ sẽ dẫn dắt đất nước dựa trên sự công chính theo lời dạy của Đức Chúa Trời vẫn được Mỹ Quốc gìn giữ cẩn trọng qua hàng chục đời nhà cầm quyền và cho đến vị tổng thống đương nhiệm.

Đức tin có thể thay đổi theo thời gian và dưới áp lực của chính trị, kinh tế không biết hiện tại thực sự họ đang tin những gì? Nhưng việc vẫn công bố gìn giữ và xây dựng đất nước dựa trên những nguyên tắc, tri thức ánh sáng từ Kinh thánh thì họ vẫn được sung túc và giàu có. Vì đó là Lời hứa chân thật của Giê-hô-va Đức Chúa Trời : Hễ ai gìn giữ, tôn trọng và làm theo Lời của Ngài thì sẽ được Ngài ban phước.

Một thông tin rất thú vị mà có lẽ ít người biết, ngôn ngữ đầu tiên được chọn để chuyển ngữ Kinh thánh (tiếng La-tinh) là Tiếng Anh (thực hiện bởi John Wyclif). Phải chăng đây là lý do khiến cho Tiếng Anh trở thành trở thành ngôn ngữ giao tiếp phổ biến toàn cầu trong thế giới hiện tại ??? (Trong nhiều trăm năm, Kinh thánh dường như là độc quyền thuộc về giáo hội và hàng giáo phẩm. Thường dân hay tín đồ rất khó để tiếp cận được với Kinh thánh, họ chỉ được ban cho nhỏ giọt mỗi lần đến nhà thờ bởi các linh mục biết tiếng La tinh. Sau thời gian đó gần như Kinh thánh hoàn toàn bị khoá lại và niêm phong khỏi tín đồ)

Hầu hết mọi người trên thế giới, khi đã biết về dân tộc Do Thái thì ít nhiều đều dành cho họ một sự ngưỡng mộ nhất định. Đó là một quốc gia có diện tích và dân số vô cùng khiêm tốn, chỉ gần bằng 1/15 đất nước Việt Nam, nhưng lại có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên hầu hết các lĩnh trong đời sống của thế giới đương đại.

Phần lớn những nhà khoa học và phát minh trên thế giới đều có nguồn gốc từ Do Thái. Những bộ óc trí tuệ thuộc hàng siêu việt nhất hành tinh, những nhà lãnh đạo kiệt xuất của nhân loại, các ông trùm tài phiệt với khối lượng tài sản khó mà đong đếm... Phần đông đều có xuất thân, nguồn gốc từ Do Thái.

Sự thật là vậy, nhưng có mấy ai biết rằng để có được những thành tựu kinh khủng nêu trên, dân tộc nhỏ bé này đã phụ thuộc hoàn toàn vào sự ban phước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Đây là dân tộc có lẽ là duy nhất trên thế giới, chết thì thôi nhưng một lòng sắt son sẽ bảo toàn và làm theo từng chữ, từng câu trong Kinh thánh.

Quí vị có biết rằng hầu hết các sự kiện mang tầm thế giới liên quan đến việc hưng vong của các thế lực cầm quyền, thể chế chính trị, kinh tế, chiến tranh, thảm họa, dịch lệ... đã từng xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử của loài người đều đã được Kinh thánh tiên tri trước đó. Và đã, đang ứng nghiệm đúng đến từng tiểu tiết nhỏ nhất...

Sự kiện thời sự nổi bật trên toàn thế giới hiện tại là đại dịch Covid cũng đã được Kinh thánh tiên báo cách đây hơn 2000 năm. Chuẩn mực cách ly mầm bệnh đang được ngành y tế các nước áp dụng là 14 ngày, thì dân Do Thái đã thực hiện cách đây hơn 3500 năm, từ sự hướng dẫn chỉ dạy của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

2. Kinh Thánh được viết ra như thế nào?

Không phải là một quyển sách đơn lẻ, Kinh thánh là một bộ được tích hợp từ nhiều quyển sách nhỏ khác nhau. Đó là những bài hát, câu chuyện được kể truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, trước khi được viết ra vào khoảng đầu của thiên niên kỷ trước công nguyên và quá trình đó kéo dài hơn 1000 năm.

Kinh thánh được biên soạn bởi nhiều người khác nhau, chịu ảnh hưởng lớn bởi các nền văn hoá, giáo dục và thể chế chính trị khác nhau.

Đều xác quyết và đặt niềm tin vào Đức Chúa Trời nhưng trong từng tổ chức tôn giáo có thể hình thành các bộ Kinh thánh khác nhau. Thậm chí là cùng một dân tộc nhưng sống ở các vùng địa lý văn hoá khác nhau thì sử dụng các bộ Kinh Thánh khác nhau. (Người Do Thái bản xứ và người Do Thái sống ở các khu vực thuộc địa)

Bộ Kinh thánh đầu tiên được gọi là “TaNaKh" (Kinh thánh tiếng Do Thái) được Do Thái giáo kinh điển trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 2 trước Công nguyên)

Thế kỷ thứ nhất của Công nguyên chứng kiến sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của Cơ đốc giáo, cùng với sự ra đời của các thánh thư, tường thuật những công việc và lời dạy của Chúa Giê-xu Christ cùng sự răn bảo của thế hệ sứ đồ đầu tiên. Đến gần cuối thế kỷ thứ 2, các sách Phúc Âm cùng các thư tín của các sứ đồ Phao-lô, Phi-e-rơ, Gia-cơ được qui điển công nhận như là một phần Kinh thánh tiếp theo thuộc về Giao ước mới.

3. Lịch sử hình thành văn bản Kinh thánh.

Các sách Kinh thánh được viết và sao chép bằng tay, chất liệu dùng để ghi chép Kinh thánh ban đầu là những tảng đá, bảng đất sét, các cuộn da và giấy cói (papyrus). Ngày nay, không có bản gốc nào còn tồn tại, và những cuộn sách cổ nhất hiện có là bản sao được tạo ra hàng thế kỷ sau khi cuốn sách được viết lần đầu tiên. Các bản sao có thể mắc nhiều lỗi khi sao chép và cả những thay đổi có chủ ý, dẫn đến các phiên bản Kinh thánh đang lưu hành khác nhau.

Theo thời gian, các cuộn riêng lẻ được tập hợp lại thành các bộ sưu tập. Đến thế kỷ thứ 3 sau CN, các cuộn sách được thay thế bằng những cuốn sách đóng gáy ban đầu được gọi là codexes , và các bộ sưu tập kinh thánh bắt đầu được sao chép thành một bộ.

Năm 1947, hơn 220 cuộn “Kinh thánh Biển Chết” được phát hiện ở hang động Qumran gần Biển Chết, là những bản sao lâu đời nhất còn tồn tại của những cuốn sách Kinh thánh tiếng Do Thái có độ dài đáng kể. Các cuộn Qumran chứng thực nhiều loại văn bản Kinh thánh khác nhau. Ngoài các cuộn giấy Qumran, còn có ba bản thảo nổi tiếng khác của Kinh thánh tiếng Do Thái là: Bản Septuagint , Văn bản Masoretic và Ngũ kinh Samaritan.

4. Niên đại của các bản sao Kinh Thánh

Các giáo sĩ Do Thái bắt đầu định hình tiêu chuẩn Kinh thánh tiếng Do Thái vào thế kỷ 1 CN, được duy trì từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất bởi người Masoretes, và được gọi là Masoretic Text . Công giáo La Mã đã tổ chức các hội đồng đại kết (Công đồng) để tiêu chuẩn hóa quy điển Kinh thánh của họ kể từ thế kỷ thứ 4 CN.

Bản Septuagint – Bản LXX bản dịch Kinh thánh tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, có niên đại từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5 CN. Masoretic Text là một phiên bản tiêu chuẩn hóa của Kinh thánh tiếng Do Thái bắt đầu được phát triển vào thế kỷ 1 CN và được người Masorete duy trì kể từ nửa sau của thiên niên kỷ đầu tiên CN. Bản sao hoàn chỉnh lâu đời nhất của nó là Leningrad Codex, có niên đại khoảng năm 1000 CN. Ngũ kinh của người Samari là một phiên bản khác của Torah được cộng đồng người Samari duy trì từ thời cổ đại và được các học giả châu Âu khám phá lại vào thế kỷ 17.

Các bản viết tay Kinh thánh bằng tiếng Do Thái cổ nhất còn sót lại - Cuộn Biển Chết có niên đại từ năm 250 trước Công nguyên đến năm 100 Công nguyên. Văn bản hoàn chỉnh lâu đời nhất còn tồn tại trong bản dịch tiếng Hy Lạp được gọi là Bản Septuagint – Bản LXX có niên đại vào thế kỷ thứ 4 CN

Có khoảng 3.000 bản thảo Tân Ước đang tồn tại, được sao chép từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 17. Hơn một trăm các bản viết tay (giấy cói papyrus, cuộn da), đã được phát hiện ở Ai Cập kể từ năm 1890, được viết bằng các chữ cái Hy Lạp khối, hầu hết có niên đại từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 9 CN.

Bằng chứng nội tại trong các văn bản cho thấy niên đại của các thư tín riêng lẻ của bộ Kinh thánh Tân ước là vào thế kỷ 1 CN. Thư tín đầu tiên được viết có thể là 1 Tê-sa-lô-ni-ca, được viết vào khoảng năm 50 CN. Sách cuối cùng là Khải Huyền niên đại có lẽ là năm 81–96 CN.

5. Kinh Thánh Hebrew (Do Thái)

Bộ Kinh Thánh Do Thái – Tanakh là do hội đồng các Ra-bi Do Thái cổ qui điển.

Phần đầu tiên trong bộ Kinh Thánh này được gọi là “Ngũ Kinh”

Bao gồm 5 quyển sách là : Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô-ký, Lê-vi-ký, Dân số ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký. Theo truyền thống 5 cuốn sách này được cho là do chính Môi-se viết, mặc dù đến thế kỷ 17, nhiều học giả đã coi nó là thành quả của nhiều tác giả khác nhau. (có nhiều giả thuyết liên quan đến thời điểm và cách thức viết ra Kinh Torah) nhưng có một sự đồng thuận chung rằng phiên bản hoàn chỉnh cuối cùng của nó có niên đại vào thời trị vì của Đế chế Achaemenid Ba Tư (450–350 TCN) hoặc có thể vào đầu thời kỳ Hy Lạp hóa (333–164 TCN).

Nội dung của năm quyển sách này chủ yếu giới thiệu về công cuộc sáng tạo của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Tường thuật về cuộc đời, công việc, dòng dõi của các tổ phụ đầu tiên nổi bậc như A-đam, Ê-va, Nô-ê, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Môi-se và Giô-suê. Tiếp đến là những chỉ dẫn luật lệ về tinh sạch, đời sống thường ngày dành cho tuyển dân. Nổi bật trong đó là mạng lệnh xây dựng đền tạm và các điều răn giới luật trong sự thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

Câu chuyện được tường thuật dài hơn hết trong Ngũ kinh chính là câu chuyện đầy thăng trầm nhưng phước hạnh vô cùng của Giô-sép – Một hình bóng khắc hoạ sơ khởi của Đấng Mesiah sau này. Chuyện kể lại hành trình phiêu bạt, chịu nhiều khốn khổ cho đến ngày được làm tể tướng của Ai-cập, với mục đích chính là cứu cả nhà Gia-cốp, cha của Giô-sép, đưa cả tuyển dân vào Ê-díp-tô và cũng là tiền đề cho thời khắc chuẩn bị tiến vào đất hứa…

Phần thứ hai trong Tanakh là “Các sách Tiên Tri”

Phần này tường thuật lại những câu chuyện về sự trỗi dậy của chế độ quân chủ Do Thái và sự phân chia của nó thành hai vương quốc: Y-sơ-ra-ên (10 chi phái phía bắc và Giu-đa (2 chi phái phía nam) cổ đại. Phần này cũng tập trung kể lại các cuộc chiến tranh giữa dân Do Thái và các quốc gia khác, song song đó là sự xung đột trường kỳ trong nội bộ của những người Y -sơ-ra- ên trong việc xác quyết niềm tin vào Yahweh là Đức Chúa Trời duy nhất với những người bị ảnh hưởng niềm tin vào các vị thần ngoại bang. Cầu nối chính yếu cho những sự việc này chính là các nhà tiên tri, họ tin rằng chính Yahweh – Đức Chúa Trời là Đấng đã chọn lựa, sai phái và ban cho họ những thông điệp truyền đến cho toàn dân Do Thái.

Phần kết thúc của các sách này là sự kiện Vương quốc Israel bị người Assyria chinh phục, bắt đi lưu đày và phá huỷ hoàn toàn, liền sau đó là cuộc chinh phục Vương quốc Judah của người Babylon và sự phá hủy của Đền thờ ở Jerusalem.

Môi-se, Giô-suê, Các Quan Xét, Sa-mu-ên, Ê-li, Ê-li-sê cũng được kể là các tiên tri và họ được liệt vào hàng tiên tri thế hệ đầu tiên.

Về sau các Ra-bi phân tri ra làm 2 cấp : đại tiên tri là Ê-sai , Giê-rê-mi , Ê-xê-chi-ên và tiểu tiên tri là Hô-sê, Giô-ên, A-mốt, Áp-đia, Giô-na, Mi-chê, Nam-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni, A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi.

Phần cuối cùng của Tanakh là các sách khôn ngoan và văn thơ

Phần này còn được gọi là Ketuvim theo truyền thống thì nó được viết ra trong sự hà hơi dẫn dắt của “Ruach HaKodesh” (Thần của Yahweh hay Linh Thánh của Đức Chúa Trời), tuy nhiên trong phân định thì thẩm quyền của nó thấp hơn phần các sách tiên tri.

Trong các bản thảo Masoretic, Thi thiên, Châm ngôn và Gióp được trình bày dưới dạng hai cột và các dấu chấm câu đặc biệt thể hiện rõ hình thức và chức năng của thơ ca. Chỉ có một ít phần của của sách Gióp là được thể hiện ở dạng văn xuôi.

Phần tiếp theo của Ketuvim là Năm cuốn sách tương đối ngắn gồm Nhã Ca, Ru-tơ, Ca thương, Truyền đạo và Ê-xơ-tê. Đây là những cuốn sách mới nhất được bổ sung và chỉ định là "có thẩm quyền" trong giáo luật Do Thái mặc dù chúng chưa được hoàn chỉnh cho đến thế kỷ thứ 2 CN.

Phần cuối của Ketuvim là Đa-ni-ên, Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi và Sử Ký. Đây được cho là phần bổ sung và qui điển cuối cùng của bộ Kinh thánh tiếng Do Thái. Có một điều đặc biệt là sách Đa-ni-ên và Ê-xơ-ra là 2 sách được viết bằng tiếng A-ram nhiều nhất.

6. Bản Kinh Thánh Septuagint (Bản 70)

Hay còn được gọi là “Bản Bảy Mươi” hoặc “Cựu ước Tiếng Hy Lạp”, thường được viết tắt là 70 bằng chữ số La Mã: LXX.

Là bản Kinh thánh tiếng Do Thái dịch sang tiếng Hy Lạp. Năm cuốn sách đầu tiên của Kinh thánh tiếng Do Thái, được gọi là Torah hoặc Ngũ kinh , được dịch vào giữa thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Các sách còn lại của “Cựu ước tiếng Hy Lạp” có lẽ được dịch từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên.

Người ta tin rằng quá trình hình thành “bản Kinh Thánh 70” xuất hiện trong câu chuyện được ghi lại trong bức thư của Aristeas người vùng Marmora gửi cho anh trai của mình là Philocrates, kể lại lý do vì sao cần phải có bản dịch Kinh thánh Do Thái ra tiếng Hy Lạp này. Tác giả bức thư cũng tự xưng mình là một cận thần thân tín của Ptolemy II Philadelphus đại đế (trị vì 281-246 trước Công nguyên).

Chi tiết câu chuyện như sau : Quan thủ thư trưởng của vua Ptolemy II Philadelphus (còn gọi là Ptolemy đại đế, người cai trị toàn cõi Ai Cập, và phần lớn quần đảo Aegean và Levant từ năm 283 đến 246 trước Công nguyên) xin hoàng đế nhanh chóng cho dịch Luật tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, qua đó bổ sung kiến thức về tiếng Do Thái vào bộ sưu tập kinh sách khổng lồ mà đế chế đã thu thập được.

Hoàng đế chấp thuận với một thái độ rất phấn khởi (vì ông là một người đặc biệt yêu thích văn thơ). Ông còn hào phóng trả tự do cho những người Do thái đang bị cầm tù, đồng thời rất rộng rãi ban cho họ nhiều quà tặng, tiền bạc để cùng các sứ thần của ông trở về Giê-ru-sa-lem tiến hành việc chuyển ngữ bộ Kinh thánh Do Thái.

Thầy tế lễ thượng phẩm đương thời của Israel chọn đúng sáu người trong mỗi bộ tộc trong số mười hai bộ tộc, tổng cộng là 72 người để gửi đến Alexandria. Hoàng đế Ptolemy vô cùng vui mừng và xúc động đón tiếp họ, liên tục trong bảy ngày, nhà vua cùng triều thần thảo luận say xưa các vấn đề mang tính triết lý với những người dịch thuật, và luôn nhận được những câu trả lời vô cùng khôn ngoan.

Sau đó 72 dịch giả hoàn thành nhiệm vụ của họ trong đúng 72 ngày. Mỗi người đều được đặt trong những gian phòng riêng biệt, nhưng rất đỗi lạ lùng là tất cả các bản dịch đều giống hệt nhau. Người Do Thái ở Alexandria, khi nghe Luật pháp của họ được đọc bằng tiếng Hy Lạp thì lòng tràn đầy hạnh phúc, yêu cầu được sở hữu các bản sao và nguyền rủa bất cứ ai có ý thay đổi nội dung bản dịch. Sau đó, nhà vua ban thưởng một cách xa hoa cho những người phiên dịch và gửi họ trở về nhà.

Kinh thánh tiếng Hy Lạp được sử dụng rộng rãi trong thời kỳ Đền thờ thứ hai, vì thời đó rất ít người có thể đọc được tiếng Do Thái. Văn bản của Cựu ước tiếng Hy Lạp được trích dẫn thường xuyên hơn bản văn gốc của Kinh thánh tiếng Do Thái trong Tân ước tiếng Hy Lạp .

Hầu hết các ấn bản hiện đại của Cựu ước Hy Lạp đang lưu hành trên khắp thế giới được dịch lại dựa trên các phiên bản cổ của “Bản LXX” như Alexandrinus , Sinaiticus và Vaticanus. Các bản chép tay Cựu ước bằng tiếng Hy Lạp vào thế kỷ thứ tư, thứ năm này có độ dài khác nhau. Chẳng hạn, Codex Alexandrinus chứa tất cả bốn cuốn sách về Maccabees ; Codex Sinaiticus chứa 1 và 4 Maccabees, và Codex Vaticanus không chứa cuốn nào trong 4 cuốn.

Các bản sao bổ sung của Bản Bảy Mươi, có niên đại từ thế kỷ thứ 4 CN, chứa các phần bổ sung không có trong Kinh thánh tiếng Do Thái như đã được thiết lập trong giáo luật Do Thái.

Một số sách được tìm thấy trong Bản LXX, nhưng không có trong Kinh thánh tiếng Do Thái là Tobit ; Judith ; sự khôn ngoan của Solomon; Ba- rúc và Thư của Giê-rê-mi , trở thành chương sáu của Ba-rúc trong Vulgate ; bổ sung cho Daniel (Lời cầu nguyện của Azarias , Bài ca của ba người bạn, Susanna và Bel và con rồng ); bổ sung cho Esther ; 1 Maccabees ; 2 Maccabees ; 3 Maccabees ; 4 Maccabees; 1 Esdras ; Odes (bao gồm cả Lời cầu nguyện của Manasseh ); Thi thiên của Sa-lô-môn và Thi thiên 151 .

Một số lý do đã được đưa ra cho việc bác bỏ Bản Bảy Mươi là thánh kinh của Do Thái giáo. Sự khác biệt giữa tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp đã được tìm thấy khá rõ ràng. Văn bản nguồn tiếng Do Thái trong một số trường hợp (đặc biệt là Sách Đa-ni-ên) được sử dụng cho Bản Bảy Mươi khác với Văn bản Masoretic. Các giáo sĩ Do Thái cũng muốn phân biệt truyền thống của họ với truyền thống của Cơ đốc giáo, vốn thường xuyên sử dụng bản Septuagint.

Bản Septuagint được đánh đồng với Cựu ước Hy Lạp, được quy điển trong Cơ đốc giáo kết hợp các sách của kinh điển tiếng Do Thái với các văn bản bổ sung. Mặc dù Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống giáo Đông phương đưa hầu hết các sách trong bản Septuagint vào giáo luật của họ, nhưng các nhà thờ Tin lành thường không có. Sau cuộc Cải cách , nhiều Kinh thánh Tin lành bắt đầu tuân theo giáo luật Do Thái và loại trừ các văn bản bổ sung.

7. Kinh Thánh của Cơ đốc giáo

Trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm “quy điển Kinh thánh” là gì? Có thể hiểu nôm na “quy điển” là một thước đo hay chuẩn mực để xác định một sách nào đó được tôn lên cao, trở thành Kinh Thánh. Quy điển Kinh thánh không phải ở dạng mở, nên bộ Kinh Thánh hiện tại được cho là chuẩn mực cuối cùng tối thượng, không được thêm bớt gì nữa.

Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa Kinh thánh tiếng Do Thái và Kinh thánh Cơ đốc giáo, mặc dù phần lớn các bản viết tay (bản cổ) đều được chia sẻ chung. Các nhóm nhánh khác nhau của Cơ đốc giáo nói chung có thể có những nguyên tắc quy điển khác nhau về Kinh thánh, những sự khác biệt đó có thể là thứ tự, số lượng và nội dung các sách.

Lấy hai nhánh phổ biến và lớn nhất của Cơ đốc giáo là Công giáo La mã và Tin lành làm ví dụ, chúng ta sẽ thấy rất rõ sự khác biệt. Kinh thánh Cựu ước của cả Công giáo và Tin lành đều lấy nội dung nền tảng là bộ Kinh thánh tiếng Do Thái (24 cuốn), dầu vậy Tin lành phân thành 39 cuốn, còn Công giáo nhân lên thành 46 cuốn (bổ sung thêm một số sách).

Nhà thờ Công giáo La mã công nhận thêm :

Tobit, Judith, 1 Maccabees, 2 Maccabees, Sự khôn ngoan, Sirach (hoặc Ecclesiasticus), Baruch, Thư của Giê-rê-mi ( Ba- rúc Chương 6). Sự bổ sung tiếng Hy Lạp cho Ê-xơ-tê (Sách Ê-xơ-tê, chương 10: 4–12: 6). Bổ sung tiếng Hy Lạp cho Daniel : Lời cầu nguyện của Azariah và Bài ca của Ba Thánh trẻ câu 1–68 (Sách Đa-ni-ên, chương 3, câu 24–90), Susanna (Sách Đa-ni-ên, chương 13), Bel and the Dragon (Sách Đa-ni-ên, chương 14)

Ngoài ra một số nhánh nhỏ còn lại của Cơ đốc giáo lại có những bổ sung khác ví dụ như : Quy điển Kinh thánh Chính thống Ethiopia công nhận thêm : Jubilees, Enoch và 1–3 Meqabyan.

Về phần Kinh thánh Tân ước thì nhìn chung không có nhiều thay đổi hầu hết các nhánh của Cơ đốc giáo đều công nhận và có 27 sách với nội dung tương đồng.

May be an image of text

More from this blog

Lê Minh Nhựt's Blog

37 posts